Tiến tới kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5)

Tiến tới kỷ niệm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5)

MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ BÁC CỦA NHÀ THƠ TỐ HỮU

                                      

(Cố nhà giáo Vũ Châu Quán - nguyên giảng viên khoa Văn trường ĐHSP Việt Bắc, nay là ĐHSP Thái Nguyên- nhà nghiên cứu văn học)

Bài đăng trên báo THÁI NGUYÊN, phát hành ngày 22.1.2000, gồm 2 số gộp lại 417 và 418

 

Sau những ngày rét đậm, trời Hà Nội sáng đẹp hẳn lên, báo hiệu những tia nắng hanh sắp ập đến. Chúng tôi bỗng nhớ đến câu thơ của Tố Hữu:

                Rét nhiều nên ấm nắng hanh

khi đến thăm ông vào một buổi sớm mùa xuân năm 1988. Sau mấy câu thăm hỏi sức khỏe và công việc, chúng tôi vào đề:

- Thưa anh! chúng em ở Việt Bắc, sau một thời gian giảng dạy, có ý định viết tập nghiên cứu về Thơ ca làm tại chiến khu của Bác, muốn xin anh một số ý kiến. Ông vui vẻ tiếp chuyện ngay:

- Việc làm của các đồng chí là rất đáng hoan nghênh. Tôi chưa có suy nghĩ nhiều về thơ Bác, nhất là thơ Bác làm tại chiến khu, nhưng nghĩ thế nào, trao đổi thế ấy. Các đồng chí ít nhiều đã nghiên cứu thơ Bác, thấy có vấn đề gì cần trao đổi, cứ mạnh dạn nêu xem. 

- Thưa anh! Một số nhà nghiên cứu viết về thơ Bác trong khi phân tích các từ ngữ, chi tiết, hình tượng, có thiên hướng muốn gò thêm thơ Bác có phản ánh hiện thực gì ở chiến khu. Ví dụ cho rằng hai câu thơ:

            Giữa dòng bàn bạc việc quân

     Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền

                        (trong bài Rằm tháng giêng)

đã phản ánh một thực tế là: Trong kháng chiến chống Pháp, Trung ương thường họp ban đêm trên sông để bảo đảm bí mật.

Hay là mấy câu trong bài Đêm Thu:

Bàn việc canh chày mới tạm ngơi

Gió mùa thu báo lạnh thu rồi

Còi thu đã rúc vang từng núi

Du kích về thôn rượu chửa vơi 

đã phản ánh một thực tế là: Hồi kháng chiến chống Pháp, quân ta thường đi phục kích trong đêm mưa gió.

Từ cách hiểu như thế, dẫn đến lời bình chi tiết rượu chửa vơi là: Mừng đoàn quân chiến thắng trở về, Bác từ từ nâng cốc; dẫn đến việc truy cứu xem tiếng chuông lầu (trong bài Báo tiệp: chông lầu chợt tỉnh giấc thu) là tiếng chuông điện thoại reo hay tiếng kẻng khua vang núi rừng, xem tiếng còi thu (trong bài Đêm thu) phải chăng là tiếng còi tập hợp quân…

Tố Hữu cười rất vui, rất lâu, rồi ông say sưa phát biểu:

- Không nên hiểu thơ một cách máy móc. Nhiều khi ta rất độc đoán, cực đoan trong việc nhận định, đánh giá các trào lưu, trường phái văn học nghệ thuật. Cuộc đời là cái gì vô cùng phong phú và luôn có biến động. Thơ không phản ánh nguyên si sự thực ở đời, nhiều khi phản ánh khúc xạ, biến dạng đi, thực thành hư mà chính tác giả có khi không ngờ tới. Sự thực ở đời qua con tim, vỏ não, qua giáo dục, rèn luyện mà nhà thơ tiếp nhận rồi biểu hiện. Nghệ sĩ (ở đây là nhà thơ) có một cái nhìn khác người một chút, gọi là cá tính sáng tạo làm công việc phản ánh sự thực qua lăng kính chủ quan của mình. Sự vật phản ánh trong đầu người nghệ sĩ đôi khi qua cái hư. Cái hư nhiều khi rất mạnh. Nghệ sĩ có khi lấy hư làm thực, cho nên mới có chuyện Lý Bạch nhảy xuống sông ôm bóng trăng. Những từ ngữ, chi tiết, hình tượng… trong thơ không phải lúc nào cũng phản ánh cái thực trong cuộc đời, nhưng chắc có cơ sở gì đó nên mới có tiếng chuông, tiếng còi trong thơ Bác.

Bác làm thơ không bao giờ vô cớ, mà bao giờ cũng bộc lộ khía cạnh nào đó của một tâm trạng, một tâm hồn lớn. Bác là một lãnh tụ, nhưng không bao giờ mang khẩu khí gì đó có vẻ to tát. Bác nói đến những cái gì nhỏ bé, nhưng lại hàm ý lớn.

Ví dụ:

         Việc quân việc quốc đã bàn

    Xách bương,  dắt trẻ ra vườn tưới rau

            (bài thơ Không đề- Xuân Thủy dịch) 

Bác như mọi người, không bao giờ muốn khác mọi người. Bác nói đến mọi cái bình thường, không xa lạ với mọi người. Thơ Bác mang tính dân tộc, tính nhân dân rất sâu sắc. Chính vì thế mà nó mang tính chất cổ điển mới. Một số anh em muốn cái mới, nhưng lại xa rời sự thực, xa rời cuộc đời. Mới không phải là ảo thuật. 

Thực tình, nhiều khi đọc thơ của một số anh em trên báo, tôi không hiểu nói gì. Thơ Bác là sự kết hợp văn hóa dân tộc và văn hóa thế giới một cách nhuần nhuyễn. Bác tiếp xúc với bao người trên thế giới, nhưng Bác hòa nhập rất tự nhiên: Một hành mục Mỹ, một nhà báo châu Âu. Bác rất dân tộc, rất Việt Nam, vì thế văn chương Bác kết hợp hài hòa chất dân gian và bác học. Bác từng đi hát Phường Vải cơ mà. Bác chịu ảnh hưởng của Đường thi.

Thơ Đường là đỉnh cao của thơ nhân loại. Thơ Bác mang hai phong vị: Dân ca và Đường thi. Rất ít hơi hướng thơ Tây. Thơ chữ Hán của Bác rất hàm xúc, ít lời, nhiều nghĩa. Tiếng "còi" không chắc là có thực, tiếng chuông có thể là hư. Nhà thơ có quyền "bịa như thật".  Nhiều khi trong thơ có Em ơi! nhưng sự thực thì không có em cụ thể nào hết. Nhiều khi nhà thơ bị quy oan là thế, nhưng không phải vì thế mà thơ không hiện thực.

Điều quan trọng là mượn cái hư nói cho vui, cái hư phải ứng một cái gì đó của cái thực. Riêng tôi thì thích nói thực, ví dụ tôi viết:

Chuông ơi chuông nhỏ còn reo nữa?

Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn

                           (trong bài thơ Bác ơi)

Tôi cảm ơn người phê bình đúng, nhưng tôi nghĩ cũng đúng. Tôi không có khả năng "bịa". Khi tôi viết:

Bác sống như trời đất của ta

Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa

                 (trong bài Bác ơi)

là tôi nói thực. Bác quý những gì con người làm ra, tạo hóa làm ra.

Trong thơ, cái hư nhiều khi là mong ước của con người, chính vì thế mà nó là nghệ thuật. Nó từ thực rồi cao hơn thực.

Tôi hiểu mối quan hệ giữa hư và thực, nhưng tôi không nghĩ Bác là thần thánh. Năm 1946, tôi viết bài Hồ Chí Minh, có lúc chữ nghĩa vụng về:

                  Hồ Chí Minh

                  Người lính già

                  Đã quyết chiến hy sinh

 

Dùng hình ảnh "Người lính già" là hơi liều, trong khi cả nước lúc ấy gọi Bác là Cụ Hồ, nhưng đó là xúc cảm rất thực của tôi. 

Hay là, trong bài Sáng tháng năm, tôi viết:

           Con bồ câu trắng ngây thơ

     Nó đang tìm thóc quanh bồ công văn

là tôi viết thực, nhưng cũng bị phê bình. Trên kia, tôi đã nói: Nhà thơ đôi khi bị oan là thế.

Trong bài thơ Bác có:

           … Chim rừng vào cửa đậu

           … hoa núi chiếu nghiên soi

                  (trong bài Tặng cụ Bùi)

 chắc là thực hay rất gần với thực.

Thức ăn trong bữa cơm của Bác ở chiến khu thường là bí đỏ và tôm khô, như vậy nghèo mà lại sang, nhưng thực tình là chưa sang được.

Trong thơ Bác có chuyện xách bương, dắt trẻ. Xách bương thì có thật, còn dắt trẻ chưa chắc đã có vì nơi Bác ở trong chiến khu, khó có các cháu bên cạnh. Cần đề phòng cách hiểu: Trong hoàn cảnh bảo đảm bí mật, bên cạnh Văn phòng Chủ tịch nước ở chiến khu vẫn có một vườn trẻ! Thơ Đường, thơ của ông cha mình, thơ Bác có loại nói cho vui (hý vị, giải trào) mà.

Tôn trọng sự thực lịch sử, với ý thức làm sống dậy không khí đương thời của ngọn trào cách mạng, tôi có nhắc lại một số bài thơ của Bác làm tại chiến khu trong trường ca Theo chân Bác như các bài: Tức cảnh Pác Bó, Ca du kích, Lên núi

Ví dụ

Núi vẫn nghiêng đầu nghe vách đá

Hát cùng cây lá gió ngàn sâu…

Hát rằng

Sáng ra bờ suối, tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Hay là:

Hoan hô Đội tuyên truyền giải phóng

Buổi ra quân, gươm nóng lời thề!

Già nào

Trẻ nào

Đàn ông nào

Đàn bà nào…

 Nếu không đưa mấy bài vào thì uổng quá

Trong thơ, có cái thực nói lúc này mà chưa nói lúc khác. Ví dụ: bài Sáng tháng năm của tôi muốn khẳng định sự tồn tại vững vàng của một chính thể:

Suối dài xanh mướt nương ngô

Bốn phương lồng lộng thủ đô gió ngàn

Nhưng Sáng tháng năm chưa đụng đến cái gian khổ, nghiêng về khẳng định cái thanh cao. Quang cảnh chiến khu trong thơ tôi tập trung ở bài Việt Bắc và bài Theo chân Bác nhưng Theo chân Bác thực hơn vì Việt Bắc có gì như thi vị hóa một chút chăng.

Chắc các đồng chí nhớ câu của nhà thơ lớn nước Pháp A-ra-gông, Tout Passe Sauf le Passant "Mọi vật đều qua đi, chỉ còn lại khách qua đường".

 "Khách qua đường" đây là trong những tác phẩm có giá trị sẽ còn lại.

 Thơ Bác trong đó có thơ chiến khu sẽ còn lại dài lâu. 

 

                                                                 Vũ Châu Quán